Dữ liệu thực thi là gì và tại sao nó khác hoàn toàn với dữ liệu báo cáo?
Trong nhiều năm nay, phần lớn doanh nghiệp xây dựng đều quản lý dự án dựa trên báo cáo:
Dữ liệu báo cáo là những dữ liệu được tổng hợp sau khi công việc đã xảy ra và thường được thu thập theo chu kỳ: cuối ngày, cuối tuần, cuối tháng, cuối quý, sau cuộc họp, sau đợt nghiệm thu, hoặc sau kỳ thanh toán.
Ví dụ về một số loại dữ liệu báo cáo dự án:
Dữ liệu thực thi là dữ liệu được sinh ra trong quá trình đang diễn ra của công việc, dự án. Nó không chỉ cho biết kết quả cuối cùng mà nó cho biết dòng vận hành của công trình đang chuyển động như thế nào.
Một số ví dụ mà dữ liệu thực thi có thể phản ánh:
Trong quản lý dự án, kết quả rất quan trọng. Nhưng kết quả chỉ là phần cuối của một chuỗi vận hành. Trong vận hành của một dự án, một hạng mục bị chậm thì không tự nhiên mà nó bị chậm mà trước khi bị chậm, thường đã có nhiều dấu hiệu:
Trong xây dựng, thời điểm phát hiện vấn đề quyết định rất lớn đến chi phí xử lý vấn đề đó.
Một đội thi công bắt đầu chậm từ thứ Hai. Nếu phát hiện ngay, Chỉ huy trưởng có thể điều chỉnh nhân lực, bổ sung vật tư hoặc thay đổi trình tự thi công. Nhưng nếu đến cuối tuần mới tổng hợp báo cáo và phát hiện tiến độ bị lệch, thì vấn đề đã kéo dài nhiều ngày.
Lúc đó phương án giải quyết có thể liên quan đến rất nhiều yếu tố:
- Báo cáo tiến độ.
- Báo cáo chi phí.
- Báo cáo vật tư.
- Báo cáo nhân lực.
- Báo cáo công trường.
- Báo cáo tuần.
- Báo cáo tháng.
Dữ liệu báo cáo là gì?
Dữ liệu báo cáo là những dữ liệu được tổng hợp sau khi công việc đã xảy ra và thường được thu thập theo chu kỳ: cuối ngày, cuối tuần, cuối tháng, cuối quý, sau cuộc họp, sau đợt nghiệm thu, hoặc sau kỳ thanh toán.
Ví dụ về một số loại dữ liệu báo cáo dự án:
- Tiến độ đã hoàn thành bao nhiêu phần trăm,
- Chi phí đã sử dụng bao nhiêu,
- Vật tư đã nhập bao nhiêu,
- Nhân công đã huy động bao nhiêu,
- Khối lượng đã nghiệm thu bao nhiêu,
- Công việc nào đã hoàn thành,
- Công việc nào chưa hoàn thành,
- Hoặc hạng mục nào đang chậm.
- Tổng hợp tình hình,
- Đánh giá kết quả,
- Lưu hồ sơ,
- Phục vụ kiểm tra,
- Phục vụ quyết toán,
- Theo dõi trách nhiệm,
- Và báo cáo cho lãnh đạo hoặc chủ đầu tư
Dữ liệu thực thi là gì?
Dữ liệu thực thi là dữ liệu được sinh ra trong quá trình đang diễn ra của công việc, dự án. Nó không chỉ cho biết kết quả cuối cùng mà nó cho biết dòng vận hành của công trình đang chuyển động như thế nào.
Một số ví dụ mà dữ liệu thực thi có thể phản ánh:
- Đội thi công nào đang làm việc,
- Đội nào đang phải chờ,
- Vật tư nào chưa đến đúng thời điểm,
- Công việc nào đang bị nghẽn,
- Quyết định nào đang bị treo,
- Vấn đề nào chưa được xử lý,
- Hạng mục nào đang ảnh hưởng đến hạng mục khác,
- Nhà thầu nào đang giảm năng suất,
- Công việc nào đang có nguy cơ chậm,
- Ai đang chịu trách nhiệm xử lý một vấn đề,
- Vấn đề đó đã tồn tại bao lâu,
- Hoặc nếu không xử lý thì sẽ ảnh hưởng đến đâu
Dữ liệu báo cáo nhìn vào kết quả, dữ liệu thực thi nhìn vào quá trình
Trong quản lý dự án, kết quả rất quan trọng. Nhưng kết quả chỉ là phần cuối của một chuỗi vận hành. Trong vận hành của một dự án, một hạng mục bị chậm thì không tự nhiên mà nó bị chậm mà trước khi bị chậm, thường đã có nhiều dấu hiệu:
- Vật tư về muộn,
- Nhân lực không đủ,
- Bản vẽ chưa rõ,
- Nghiệm thu bị treo,
- Mặt bằng chưa sẵn sàng,
- Nhà thầu phụ phối hợp chậm,
- Hoặc quyết định chưa được phê duyệt.
Doanh nghiệp cần dữ liệu thực thi để phát hiện sớm vấn đề
Trong xây dựng, thời điểm phát hiện vấn đề quyết định rất lớn đến chi phí xử lý vấn đề đó.
Một đội thi công bắt đầu chậm từ thứ Hai. Nếu phát hiện ngay, Chỉ huy trưởng có thể điều chỉnh nhân lực, bổ sung vật tư hoặc thay đổi trình tự thi công. Nhưng nếu đến cuối tuần mới tổng hợp báo cáo và phát hiện tiến độ bị lệch, thì vấn đề đã kéo dài nhiều ngày.
Lúc đó phương án giải quyết có thể liên quan đến rất nhiều yếu tố:
- Tăng ca,
- Bổ sung đội thi công,
- Điều chuyển thêm thiết bị,
- Thay đổi kế hoạch,
- Chấp nhận chi phí phát sinh,
- Hoặc xử lý áp lực với chủ đầu tư.
Dữ liệu báo cáo thường bị tách rời, dữ liệu thực thi phải được kết nối
Trong nhiều doanh nghiệp xây dựng, dữ liệu thường nằm rải rác ở nhiều bộ phận. Ví dụ như: Phòng kế hoạch có dữ liệu tiến độ, phòng vật tư có dữ liệu cung ứng, phòng tài chính có dữ liệu chi phí, phòng hợp đồng có dữ liệu thanh toán, công trường có dữ liệu thi công, kỹ thuật có dữ liệu bản vẽ… Nhưng trong quản trị thì vận hành của dự án không đi theo từng phòng ban riêng lẻ. Một công trình là một hệ thống liên kết giữa các yếu tố liên quan đến dự án, như: Vật tư ảnh hưởng đến tiến độ, tiến độ ảnh hưởng đến chi phí, chi phí ảnh hưởng đến dòng tiền, dòng tiền ảnh hưởng đến nhà thầu, nhà thầu ảnh hưởng đến năng suất, và năng suất ảnh hưởng đến ngày hoàn thành. Rõ ràng, nếu dữ liệu bị tách rời thì doanh nghiệp sẽ không nhìn thấy mối liên hệ giữa các mảnh đó trong quá trình vận hành dự án. Chính vì vây, doanh nghiệp cần phải có dữ liệu thực thi để kết nối được các yếu tố:- Công việc
- Con người
- Vật tư
- Thiết bị
- Tiến độ
- Chi phí
- Vấn đề
- Quyết định
- Trách nhiệm
- Và kết quả xử lý
Dữ liệu báo cáo trả lời “đã xảy ra chưa”, dữ liệu thực thi trả lời “đang diễn ra thế nào”
Sự khác biệt giữa dữ liệu báo cáo và dữ liệu thực thi thường được thể hiện qua các câu hỏi mà lãnh đạo thường đặt ra trong quá trình vận hành dự án. Dữ liệu báo cáo thường trả lời các câu hỏi ở thì quá khứ của dự án như:- Đã hoàn thành chưa?
- Đã chậm chưa?
- Đã vượt chi phí chưa?
- Đã phát sinh chưa?
- Đã nghiệm thu chưa?
- Đã thanh toán chưa?
- Công việc đang bị nghẽn ở đâu?
- Vấn đề này đã tồn tại bao lâu?
- Ai đang giữ trách nhiệm xử lý?
- Nếu không xử lý thì ảnh hưởng đến hạng mục nào?
- Quyết định nào đang bị treo?
- Nhà thầu nào đang giảm năng suất?
- Công việc nào có nguy cơ chậm trong vài ngày tới?
- Rủi ro nào đang bắt đầu hình thành?
Dữ liệu thực thi giúp lãnh đạo nhìn thấy vấn đề trước khi nó trở thành khủng hoảng
Một trong những giá trị lớn nhất của dữ liệu thực thi là có khả năng cảnh báo sớm khi nó giúp doanh nghiệp nhìn thấy các tín hiệu nhỏ xẩy ra đối với dự án. Ví dụ như:- Thời gian xử lý vấn đề bắt đầu dài hơn,
- Số lượng công việc chờ tăng lên,
- Vật tư quan trọng liên tục chậm,
- Năng suất của một đội thi công giảm,
- Quyết định phê duyệt mất nhiều ngày hơn,
- Hoặc các hạng mục phụ thuộc bắt đầu lệch nhịp.
Dữ liệu thực thi không thay thế báo cáo, mà làm báo cáo trở nên có ý nghĩa hơn
Thực chất dữ liệu báo cáo có ý nghĩa rất quan trọng với doanh nghiệp, vì vậy nếu dữ liệu báo cáo được tạo ra từ dữ liệu thực thi mà không phải từ việc tổng hợp thủ công rời rạc thì nó càng trở nên có ý nghĩa hơn khi không còn là phán ánh theo dữ liệu trong quá khứ mà có thể phán ánh lại tình trạng dự án theo dữ liệu hiện tại. Khi báo cáo được xây dựng trên dữ liệu thực thi, báo cáo sẽ không chỉ phản ánh: Dự án chậm bao nhiêu, chi phí vượt bao nhiêu, hoặc công việc hoàn thành bao nhiêu mà còn giúp lãnh đạo hiểu và phân tích được: Vì sao chậm, chậm bắt đầu từ đâu, ai đang xử lý, vấn đề kéo dài bao lâu, ảnh hưởng đến những hạng mục nào, và cần quyết định gì để xử lý. Khi đó báo cáo sẽ trở thành công cụ quản trị cho doanh nghiệp.Vì sao doanh nghiệp xây dựng cần dữ liệu thực thi trước khi nói đến AI?
Hiện nay, rất nhiều trao đổi và sự khẳng định về vai trò của AI trong doanh nghiệp, như: AI dự báo tiến độ, AI cảnh báo rủi ro, AI phân tích chi phí, AI hỗ trợ ra quyết định. Tuy nhiên, AI không thể thông minh nếu dữ liệu đầu vào không phản ánh đúng thực tế vận hành của dự án và doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có dữ liệu báo cáo rời rạc thì AI cũng chỉ học được những gì từ quá khứ đã bị làm chậm, làm mờ và làm thiếu bối cảnh. Và khi đó AI có thể biết dự án từng bị chậm nhưng AI cũng sẽ khó hiểu vì sao dự án lại bị chậm. Nền tảng thật sự của AI trong ngành xây dựng sẽ không bắt đầu từ thuật toán mà nó bắt đầu từ dữ liệu thực thi. Vì vậy, doanh nghiệp muốn triển khai AI hiệu quả thì trước hết phải xây được khả năng ghi nhận, kết nối và hiểu dữ liệu thực thi của dự án.Dữ liệu thực thi là nền tảng của quản trị công trình hiện đại
Trong tương lai, doanh nghiệp xây dựng mạnh là doanh nghiệp có khả năng nhìn thấy công trình đang vận hành như thế nào. Khi đó, họ có thể nhìn thấy:- Công việc đang di chuyển ra sao,
- Vấn đề đang nghẽn ở đâu,
- Vật tư đang ảnh hưởng đến tiến độ thế nào,
- Nhà thầu nào đang yếu đi,
- Quyết định nào đang làm công trường phải chờ,
- Chi phí nào đang có dấu hiệu vượt kiểm soát,
- Và rủi ro nào cần xử lý trước.
